Doanh nghiep ha noi | Ha noi business Guide

Doanh nghiệp tiêu biểu

Thức cùng Thu Hà Nội

 

Lối phố cổ dọc ngang, cầu Long Biên chênh vênh, Tháp Rùa mờ sương, những mưu sinh bám vào đêm… Tất cả tạo nên một Hà Nội rất riêng, riêng với ngay chính những người vốn sinh ở đất Hà Thành ngẫu hứng chọn cho mình một đêm làm lữ khách.

 

 

Chuyện nhặt

Hơn 11h đêm, màn trình diễn ánh sáng laser ở Hồ Hoàn Kiếm đã tắt, chúng tôi thả bước ven hồ. Đường phố vãn người, nhưng ở góc đường trông sang phố Bảo Khánh, một cụ bà cô tịch tên Hựu vẫn ngồi giã trầu bằng cái cối cáu thời gian bên gánh hàng nước rong, không bóng khách. Hàng chục năm nay, không kể nắng hay mưa, ngày nào bà Hựu cũng ngồi đó. Chiếc làn nhỏ với ít đồ vặt là cơ nghiệp mưu sinh để bà nuôi mình, nuôi hai đứa con không phát triển bình thường. Giờ con lớn của bà dễ đã 60 tuổi.

Bạn đồng hành của tôi, người vốn gắn bó sâu nặng với Hồ Hoàn Kiếm, từng viết về bà như một “biểu tượng” cho những số phận góp phần làm nên phần “đời” cho hồ thiêng, kể lại, giờ chỉ còn bà Hựu và bà Là bán chuối ở đầu kia của phố là những cụ bà sót lại còn ăn trầu giã bằng tay ở phố Bảo Khánh. Khoảng hai năm trước, bộ ba cụ bà ăn trầu có cả cụ Cẩn. Cụ Cẩn cũng bán nước chè chén, bán đến năm 92 tuổi, bán cho đến ngày được gọi về thiên cổ. Vậy nên, giờ mỗi ngày đi quanh hồ, anh bạn tôi bất giác có thói quen, nhìn xem hai cụ bà, người bán chè chén, người bán chuối còn đó hay không? Ngày nào vắng là trong anh như gợn lên một chút hẫng hụt mơ hồ…

 

 

Đêm càng sâu, dường như kim đồng hồ nhích càng chậm, muốn trốn góc phố vẫn ồn ào còn sót lại, chúng tôi tìm đến Tomato - một quán nhỏ trên phố Lương Ngọc Quyến. Xưa nay, vốn có cái tiếng người Hà Nội không giỏi chiều khách như người miền trong, nhưng có lẽ không khí đại lễ phần nào đã khiến cho những người làm dịch vụ ở phố cổ đon đả hơn. Tuy đã bắt đầu dọn hàng, nhưng khi thấy chúng tôi ngỏ ý muốn ngồi chơi trên vỉa hè, chủ quán rất nhiệt tình sắp xếp và sẵn lòng thức cùng khách cho đến khi đêm tàn!

Một thiếu phụ chân quê bán mực nướng rong dừng bước mời chào, quạt than hồng, nụ cười có lúm trở nên duyên hơn và đêm thoảng chút nồng đượm.

 

 

Phố chỉ còn lác đác người qua lại, chợt rộn tiếng trẻ thơ. Một bà dắt đứa cháu trai chừng hơn tuổi và đứa cháu gái nhiều hơn chút xíu ra chơi tung tăng ở quãng phố trước nhà. Cứ như thể bọn trẻ đã đổi giờ sinh học để có thể biến phố nhỏ đêm thành sân chơi của riêng mình, điều làm sao có thể mơ nổi nếu vào những giờ phút khác trong ngày?

Không biết sao, tự nhiên có cảm giác, dường như phố cổ mỗi lúc một quánh lại với màn đêm, và thấy ngỡ ngàng khi vang lên đâu đó giọng đàn ông trầm đục rao “bánh bao đêêê…..”. Cái âm cuối kéo dài khuất lấp dần trong ngõ bé gợi người ta nhớ đến những mùa đông thơ ấu, rét mướt, trùm chăn trên căn gác xép nhỏ như chỉ đủ ghé mắt nghe tiếng rao ăn đêm vẳng ngoài phố…

Duyên lặn

Khi chúng tôi rời quán, ngày mới đã sang được hơn canh giờ. Bước chân dần dụ lạc vào khung cảnh khác, những phố cũ đã thiếp lặng, tĩnh yên, chỉ có con đường mờ tỏ trong ánh đèn và những cánh cửa khép kín. Cảm như nếu chậm bước, áp tai vào một cánh cửa ngay kia thôi, có thể nghe tiếng thở, rất khẽ.

 

 

Phố nhỏ, ngõ nhỏ, nhà đối nhà gần nhau quá thể, hai hàng cờ đỏ sao vàng treo mỗi bên, nhìn xa, cứ như muốn níu sang nhau. Bạn tôi bảo thích phố cổ Hội An hơn phố cổ Hà Nội. Tôi cũng đã từng nghĩ như thế bởi phố cổ Hà Nội từ lâu đã bị sự ồn ã của kẻ chợ với những mưu sinh quăng quật làm biến thể. Nhưng nếu đêm, đặt bước trên mỗi con đường nhỏ, sẽ thấy một Hà Nội khác.

Sự cổ của Hội An lồ lộ ngay trên mặt phố, còn nét cổ của Hà Nội lại như cái duyên lặn của người con gái. Thật khó để tìm lại những rêu phong, những mái ngói ngày nào, nhưng nếu ban ngày, những ngôi nhà thi nhau mở tràn mặt tiền để kinh doanh, nhìn vào chỉ thấy cái hiện tại lấn lướt cái quá khứ thì đến đêm, khi phố đã say giấc, bạn nhìn lên tầng hai của các ngôi nhà sẽ thấy, còn đó những dấu ấn xưa, từ kiểu kiến trúc đến những chữ đắp nổi nhắc nhở Hà Nội của một thời trầm kính...

“Thành phố không có những ngôi nhà cổ, như con người sống không ký ức”, không nhớ tôi đã đọc điều đó ở đâu, nhưng thốt nhiên hình tượng về một thành phố không ký ức hiện về trong tâm trí khi đi lại trên những con đường từng đi vào thơ ca với những “mái nhà ngẩn ngơ nỗi nhớ trên từng viên ngói vỡ”… Phố đang khoác lên mình vẻ đô thị có phần trọc phú. Phải chăng, hai ngôi nhà cổ được trùng tu ở 87 Mã Mây và 38 Hàng Đào không đủ, dù chỉ là để điểm xuyết nét xưa cũ cho những ai muốn tìm về một Hà Nội trong mắt Bùi Xuân Phái!

 

 

Tĩnh mịch của đêm còn đây, trong trẻo của đêm chưa mất, nhưng ký ức muốn ghi lại những dấu ấn có thể sẽ không còn được bao xa. Hàng Chiếu dẫn về Ô Quan Chưởng, cửa Ô vẫn còn ngổn ngang của “công trình đại lễ”. Cánh cửa nhỏ dưới chân tường Ô Quan Chưởng, khoá ngoài, không còn hình bóng bà cụ vẫn sống lầm lũi ngay trong căn hầm nhỏ ngày nào, chỉ còn vật liệu xếp ngổn ngang… Phố không bóng người, chẳng thể hỏi bà cụ giờ chốn nao hay đã khuất bóng, chỉ biết ngước nhìn ngọn đèn đường vàng vọt, đêm xa vời phía trên kia… Có điều an ủi, thời gian như dừng lại ở những cây bàng lá đang mùa xanh ngắt, ở rễ si buông trùm cổ thụ…

Nhịp tàu đêm

Cây cầu hơn trăm tuổi Long Biên có phần duyên dáng hơn trong đêm, nhưng lại như xa mờ với vầng trăng chỉ còn hơi đầy đặn soi toả. Trăng cô đơn trên kia hay những nhịp cầu thép cô đơn nhớ tiếng tàu chạy, tôi cũng chẳng biết nữa? Chỉ biết, khi thả bước trên cầu, thấy trăng lạnh quá, ngỡ như trăng treo trên thanh cầu mà cũng xa biết bao nhiêu.

Đầu cầu, chợ hoa quả rau củ đêm hoạt động hết công suất. Ấn tượng nhất có lẽ là dãy củ đậu xếp duyên duyên như bức tường dọc theo triền đê với những cái rễ chòi ra, vỏ củ màu trắng ngà, cành xanh loe xoe. Nhìn củ đậu nép mình một góc giữa thế giới của hoa quả Trung Quốc, cứ như thể đi xa gặp cố nhân vậy. Cho dù những người biến đêm thành ngày khiến cho khu chợ ngay dưới gầm cầu thật náo nhiệt, nhưng sao vẫn như tách khỏi không gian riêng của cầu…

 

 

Nếu đi xa hơn về phía bờ kia của sông, đến đoạn bãi giữa, bạn có thể ngồi xuống nghỉ ngơi với những món quà đêm như chè chén, củ đậu, hạt dưa…  Run run quàng khăn mỏng và ngân nga “Tôi mong về Hà Nội, để nghe gió sông Hồng thổi…”.  Mùa này nước cạn, sông Hồng trơ đáy và gió đã thôi nồng nhiệt… Chợt thèm thấy nước tràn bãi giữa, thấy lại sắc đỏ của phù sa, màu xanh của ngô… Như thể thèm cái rét đầu đông khi đi trên phố cổ vào đêm để thấm thía, thế nào là “những phố dài xao xác heo may”.

Đêm như màn nhung trùm lên cây cầu. Và 2h 30p, một đoàn tàu đến khiến đêm của chúng tôi trọn vẹn hơn trong cảm nhận, khi thấy bước chân mình rung theo nhịp lắc của chuyến tàu xuyên bóng tối. Long Biên, từng chỉ để cho tàu hoả vượt sông Hồng mà thôi…

Bình minh ở quảng trường

Thay vì đón bình minh trên sông Hồng, chúng tôi trở lại quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngày đến sớm hơn với người dân phố cổ. Trời mới có chút mây xám mà một số nhà dọc theo lối chúng tôi đi đã sáng đèn. Lác đác có những bóng người đi tập buổi sớm… Thấy vui vui khi những xe máy xếp đầy báo rời chợ băng qua quảng trường, cứ như thể đang được cầm tờ báo còn thơm mùi giấy mực. Âu cũng là niềm vui dần xưa cũ khi ngón tay quen với “chuột” hơn là lật dở trang báo…

Có những điều sẽ trôi vào quá khứ, nhưng một cách tự nhiên nào đó vẫn được ghi nhận lại bởi những “chứng nhân” bất ngờ nhất. Tỷ như cây Đề nơi chúng tôi ngồi nghỉ ở quảng trường, trên một cành chạc vẫn còn lại vòng dây thép bó quanh. Nếu không phải đi với một người bạn chuyên nghiên cứu về Hồ Hoàn Kiếm, tôi đã chẳng thể biết đây chính là cây Đề bao nhiêu năm trước có treo chiếc loa – nơi hàng trăm người đứng đội mưa để nghe thông tin về chiến sự, về sức khoẻ của Bác những ngày Người sắp đi xa… Chiếc loa chỉ còn lại trong phim, ảnh tư liệu, nhưng cây Đề vẫn còn đây với vòng dây thép đã khuất lấp dần bởi rễ cây che phủ mỗi ngày. Và tôi tin, trong tâm trí của không ít người Hà Nội thủa xưa ấy, cây Đề vẫn tồn tại như một gợi nhắc, một đường dẫn trở lại quá khứ.

Hiện tại có thể phần nào khoả lấp quá khứ nhưng sẽ có những người như bạn tôi, lần tìm trở lại những câu chuyện xưa. Nhưng sẽ chỉ là chuyện của một số người hoài cổ nếu như hiện tại không gửi đến tương lai những thông điệp về quá khứ. Chúng tôi đang ngồi ở quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, vậy mà không mấy người biết được cái tên cũng như nguyên cớ vì sao quảng trường mang tên ấy. Trừ khi nơi này được dựng một tấm bia nhỏ ghi lại sự tích về một quá khứ đấu tranh quật cường của những lớp thế hệ những người Hà Nội hào hoa một thủa dựng nước và giữ nước… Điều ấy, tiếc thay đến giờ vẫn chưa có, cho dù ngày kỷ niệm 1000 năm đã chạm!

Gần 5h sáng, chúng tôi theo chân bà cụ Thái để leo từng bậc qua cầu thang cũ kỹ đến không thể cũ kỹ hơn và trở thành những người khách đầu tiên trong ngày của quán “cà phê sinh viên”. Chẳng biết từ bao giờ, bà Thái đã làm cái công việc - thức dậy vào 4h sáng, xay đỗ tương bằng cối xay tay rồi đến quán cà phê của cô cháu gái con của ông chủ cà phê Giảng, phụ giúp cô mở hàng và bán những cốc sữa đậu nành thơm dịu. Giờ tuổi cao, bà chỉ còn đủ sức làm độ hai chục cốc sữa mỗi ngày, cũng có lúc muốn nghỉ mà người ta nhớ nước đậu, nhớ bà, khiến không dừng cho nổi… Quán được nhớ vì tái hiện một thời với toàn những vật dụng thời bao gấp, từ những cái ghế gỗ con con chân sắt, đến những phin pha cà phê tự chế, từ khuôn ảnh đen trắng một thời thiếu nữ của bà chủ quán tên Bích, đôi mắt đẹp và buồn như muốn hút thời gian…

Một không gian tương phản giữa quá khứ và thực tại ngoài khuôn cửa ban công. Phố đã đông mà quán vẫn tĩnh, những giọt cà phê rơi đều không biết vội…

Men theo thời gian, chúng tôi đã thức trọn một đêm cùng Hà Nội, như thế!


Theo Người đưa tin

quangcaomienphi

Thức cùng Thu Hà Nội

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Doanh nghiệp mới tham gia